Tên thành viên:   Mật khẩu:   Đăng nhập tự động  Ẩn danh 


¸.·º°¨(¯`'•.:.||.:.•'´¯)¨°º·.¸




Tìm kiếm với từ khoá:


Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 6 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 25-10-2011, 11:13 pm 
THI NANG
<img src='http://vnthidan.com/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 11-12-2009, 08:46 pm
Lần ghé thăm trước: 28-08-2013, 11:47 pm
Bài viết: 510
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 436 lần
Được cảm ơn:
1465 lần trong 393 bài viết
 

CẤU TRÚC CỦA THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG


Kính chào quí thi hữu,



Thi Nang vừa đọc xong hai quyển Đường thi tuyển dịch của tác giả Lê Nguyễn Lưu,thấy trong đó có phần “Cấu trúc của thi pháp thơ Đường” gồm chữ Hán,Hán-Việt,dịch xuôi và dịch thơ.

Thi Nang xin phép được trích phần cấu trúc này để quí thi hữu tham khảo,nghiên cứu về thơ Đường luật.(Không đưa phần chữ Hán vào đây).

Trích đoạn này chưa hẳn đã đầy đủ,với hy vọng là góp một phần nhỏ cho các bạn thơ trẻ yêu thích hoặc mới tập làm thơ Đường luật.

Thơ Đường bao gồm nhiều thể loại khác nhau.Chúng ta hãy khảo sát kiểu cơ bản,tức luật thi ( bát cú ) qua các yếu tố thi pháp:nhịp điệu,tiết tấu,vận pháp,đối ngẫu và bố cục,…

1)Nhịp điệu:

Câu thất ngôn đi theo nhịp chẵn,ngắt hơi ở sau tiếng thứ hai và thứ tư,đôi khi chỉ có một chỗ ngắt hơi sau tiếng thứ tư (2-2-3,hay 4-3 ).

Ví dụ: Trích trong bài Đăng cao của Đỗ Phủ

Vô biên/lạc diệp/tiêu tiêu há,

Bất tận/trường giang/cổn cổn lai

Dịch xuôi:

Lá rụng ào ào không bao giờ dứt

Sông dài cuồn cuộn chảy chẳng chút nào thôi.

Dịch thơ:

Mênh mông lá úa bời bời rụng,

Man mác sông dài cuộn cuộn mau.

Hoặc trích trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Nhớ nước/đau lòng/con quốc quốc

Thương nhà/mỏi miệng/cái đa đa.

Tuy nhiên,khi cần,tác giả cũng biến đổi nhịp điệu,làm cho câu thơ gợi cảm hơn.Những câu được ngắt nhịp đặc biệt như thế sẽ nỗi bật lên giữa bài thơ,gây nên một ấn tượng sâu sắc.

Ví dụ: Trích trong bài Giang Nam xuân mộ ký gia của Lý Thân

Kiếm Thủy tự tiền/phương thảo hợp,

Kính Hồ đình thượng/dã hoa khai.

Dịch xuôi:

Trước chùa Kiếm Thủy,cỏ thơm chụm lại,

Ngoài đình Kính Hồ,hoa dại nở rộ.

Dịch thơ:

Kiếm Thủy cỏ thơm trùm miếu trước,

Kính Hồ hoa dại nở đình ngoài.

Hoặc trích trong bài Các dạ của Đỗ Phủ

Ngũ canh/cổ giáp thanh/bi tráng,

Tam giáp/tinh hà ảnh/động dao.

Dịch xuôi:

Suốt năm canh,tiếng trống tù và còn não nùng,

Vùng ba kẽm,bóng sao hà lung lay.

Dịch thơ:

Kèn trống năm canh hồi rộn rịp,

Sao hà ba kẽm bóng linh lung.

Nó khác hẳn với câu thất ngôn nhịp lẻ của thơ Việt Nam (trong thể song thất lục bát ):

Chàng tuổi trẻ/vốn dòng/hào kiệt,

Xếp bút nghiên/theo việc/đao cung.
(Trích trong Chinh phụ ngâm diễn ca của bà Đoàn Thị Điểm)

-Còn câu ngũ ngôn vì ngắn quá nên chỉ có hai nhịp và chỗ ngắt hơi là sau tiếng thứ hai ( 2-3 ).Xem thế,ta có thể nói câu ngũ ngôn là do lấy câu thất ngôn bỏ đi hai tiếng đầu,vẫn thuộc nhịp chẵn:

Ví dụ: Trích trong bài Tương tư của Vương Duy

Hồng đậu/sinh Nam quốc,

Xuân lai/phát kỷ chi.

Dịch xuôi:

Cây đậu đỏ mọc ở phương Nam,

Xuân đến nẩy ra vài cành.

Dịch thơ:

Đậu đỏ miền Nam mọc,

Xuân sang nẩy mấy chồi.

Ngược với câu ngũ ngôn Việt nam (3-2):

Lời cổ nhân/còn dặn,

Sao ông chủ/vội quên?

(Khuyết danh,trích trong Lục súc tranh công).

( còn tiếp )


Sửa lần cuối bởi THI NANG vào ngày 27-10-2011, 09:25 pm với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
  
Có 13 thành viên đã cảm ơn THI NANG cho bài viết này:
Supporter27 (25-10-2011, 11:42 pm), Lính thuỷ (26-10-2011, 05:21 am), Trần Việt Phong (26-10-2011, 06:07 am), Bùi Bắc Hợp (26-10-2011, 09:04 pm), Nguyễn Đức Tùy (30-10-2011, 09:01 pm), ngà (05-11-2011, 09:52 am), Hansy (17-11-2011, 11:40 pm), Phương Đông (18-11-2011, 12:19 am), p.thehung77 (16-12-2011, 02:30 pm), p.thehung77 (16-12-2011, 02:30 pm), giahung1980 (01-01-2012, 11:50 pm), Trần Hoành (20-03-2012, 11:25 pm), NHUAI NGUYEN (20-11-2012, 09:51 am)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 26-10-2011, 10:17 pm 
THI NANG
<img src='http://vnthidan.com/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 11-12-2009, 08:46 pm
Lần ghé thăm trước: 28-08-2013, 11:47 pm
Bài viết: 510
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 436 lần
Được cảm ơn:
1465 lần trong 393 bài viết
 
2)Tiết tấu:

Tiết tấu là sự phối hợp thanh điệu trong câu thơ,hay nói cách khác,là sự luân phiên bằng trắc giữa các tiếng.Bằng là những tiếng thuộc thanh bình ( viết tắt: B ),chuyển thành thanh ngang và huyền trong tiếng Hán-Việt.Trắc là những tiếng thuộc thanh thượng,khứ,nhập ( viết tắt : T ),chuyển sang tiếng Hán-Việt thành hỏi,ngã,sắc,nặng.

Bước đi của câu thơ,nếu theo qui định rất nghiêm ngặt của lối thơ cung đình,khoa cử,thì có các kiểu sau đây:
Hình ảnh

Nhưng trong sáng tác bình thường nhà thơ được phép vận dụng lệ ngoại:

“ nhất,tam,ngũ bất luận;nhị,tứ,lục phân minh” (tiếng thứ nhất,ba,năm không kể; tiếng thứ hai,tư,sáu phải rõ ràng),hay nói cách khác,sự luân phiên bằng trắc chỉ tính ở các chỗ ngắt hơi ( cú đậu).Như thế chỉ còn lại hai kiểu,hợp nhất (1) và (2) thành kiểu (I),câu luật bằng; hợp nhất (3) và (4) thành kiểu (II),câu luật trắc:

Hình ảnh
Phối hợp hoàn toàn bài tám câu,thì các câu 1,4,5,8 cùng một kiểu,các câu 2,3,6,7 cùng một kiểu.Hai câu theo cùng một kiểu gọi là niêm ( kết dính),cho nên câu 2 niêm với câu 3,câu 4 niêm với câu 5,câu 6 niêm với câu 7 và còn lại câu 1 niêm với câu 8.Nếu câu 1 thuộc luật bằng thì gọi là bài thơ luật bằng,nếu câu 1 thuộc luật trắc thì gọi là bài thơ luật trắc.Nếu bài thơ có câu nào không theo đúng qui tắc trên thì gọi là bài thất niêm.Lại những chỗ “bất luận”,nếu có tiếng nào đổi thanh mà làm cho âm điệu trúc trắc,không hài hòa,thì gọi là khổ độc.


Sửa lần cuối bởi THI NANG vào ngày 29-10-2011, 02:00 pm với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
  
Có 7 thành viên đã cảm ơn THI NANG cho bài viết này:
Trần Việt Phong (27-10-2011, 05:27 am), Nguyễn Đức Tùy (30-10-2011, 09:05 pm), ngà (05-11-2011, 09:53 am), Hansy (17-11-2011, 11:40 pm), Phương Đông (18-11-2011, 12:19 am), giahung1980 (01-01-2012, 11:50 pm), Trần Hoành (20-03-2012, 11:25 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 28-10-2011, 10:06 am 
THI NANG
<img src='http://vnthidan.com/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 11-12-2009, 08:46 pm
Lần ghé thăm trước: 28-08-2013, 11:47 pm
Bài viết: 510
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 436 lần
Được cảm ơn:
1465 lần trong 393 bài viết
 
3)Vận pháp:
Vần là yếu tố quan trọng bậc nhất trong thơ ca cổ điển.Các tác giả có thể "thất niêm" nhưng không bao giờ "lạc vận".
Thơ bát cú sử dụng một "khuôn vần" duy nhất từ đầu đến cuối,gọi là "độc vận",vị trí ở cuối các câu 1,2,4,6,8 gọi là cước vận ( vần chân ).Có khi bỏ vần ở câu 1.

-Vần mang khuôn âm hoàn toàn giống nhau ( cùng thuộc một vận bộ ),gọi là chính vận.Những tác giả đời Đường rất thích dùng chính vận.

Ví dụ:bài Ân tứ Lệ Chính điện thư viện tứ yến,ứng đắc Lâm tự của Trương Duyệt:
Đông Bích đồ thư phủ ( bỏ vần )
Tây Viên hàn mặc lâm.
Tụng Thi văn quốc chính
Giảng Dịch kiến thiên tâm
Vi thiết hòa canh trọng
Ân thao túy lễ thâm
Tái ca xuân hứng khúc
Tình kiệt vị tri âm.

Dịch xuôi:
Ơn vua cho làm ở thư viện Lệ Chính,ban tiệc,vâng mệnh làm bài thơ lấy vần "Lâm"
Đông Bích là kho chứa sách vở,
Tây viên là rừng bút mực
Ngâm Kinh Thi mà nghe bàn việc nước,
Giảng Kinh Dịch mà thấy rõ lòng trời
Địa vị trộm giữ việc "nêm canh" nặng nề,
Được ơn vua ban cho rượu nếp rất sâu xa.
Có cảm hứng hát vang khúc ca xuân,
Dốc hết tâm tình vì người tri kỷ.

Dịch thơ:
Đông Bích,đồ thư chứa,
Tây Viên,bút mực bày
Ngâm Thi,việc nước rõ,
Giảng Dịch,lẽ trời hay
Trộm chức nêm canh nặng
Ơn vua thưởng rượu say.
Ca xuân cao giọng hát
Tri kỷ dốc lòng ngay!

-Nếu vần chỉ giống nhau bộ phận,gọi là thông vận.

Ví dụ:bài Họa Giả Chí xá nhân "Tảo triều Đại Minh cung" chi tác của Vương Duy:
Giáng trách kê nhân báo hiểu trừ,
Thượng y phương tiến thúy vân cừu.
Cửu thiên xướng hạp khai cung điện,
Vạn quốc y quan bái miện lưu.
Nhật sắc tài lâm tiên chưởng động,
Hương yên dục bạng cổn long phù.
Triệu bãi tu tài ngụ sắc chiếu,
Bội thanh quy đáo Phụng Trì đầu.

Dịch xuôi:
Họa bài "Chầu sớm ở cung Đại Minh" của xá nhân đại chí.
Kê nhân đội khăn đỏ đưa hiệu báo trời đã sáng,
Quan thượng y vừa dâng lên vua áo thúy vân.
Trên chín tầng trời,quan xướng hạp mở cửa cung điện,
Khắp muôn nước,áo mũ chào lạy miện lưu.
Ánh mặt trời vừa dọi xuống,tay tiên vẫy động,
Khói thơm như muốn bay lên vấn vít áo rồng.
Tan chầu,hãy còn lo viết tờ chiếu năm sắc,
Tiếng ngọc bội reo vang trở về đến gác Phụng Trì.

Dịch thơ:
Vừa nghe báo sáng lệnh kê nhân,
Quan thượng y dâng áo thúy vân.
Chín bệ mở toang cung ngọc điện,
Trăm quan mừng lạy đấng anh quân.
Tay tiên đón nắng cao cao vẫy,
Áo ngự xông hương lớp lớp vần.
Tan cuộc triều đình vâng chiếu chỉ,
Phượng Trì trở lại ngọc vang ngân.


Đầu trang
  
Có 6 thành viên đã cảm ơn THI NANG cho bài viết này:
Trần Việt Phong (28-10-2011, 01:00 pm), ngà (05-11-2011, 09:53 am), Hansy (17-11-2011, 11:40 pm), Phương Đông (18-11-2011, 12:27 am), giahung1980 (01-01-2012, 11:51 pm), Trần Hoành (20-03-2012, 11:25 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 30-10-2011, 08:11 pm 
THI NANG
<img src='http://vnthidan.com/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 11-12-2009, 08:46 pm
Lần ghé thăm trước: 28-08-2013, 11:47 pm
Bài viết: 510
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 436 lần
Được cảm ơn:
1465 lần trong 393 bài viết
 
4) Đối ngẫu:

Điểm đặc biệt đáng chú ý trong thơ Đường luật là dùng đối ngẫu.
a) Đối từ: là những từ cùng một vị trí trong hai câu ( hay vế ) phải cùng một cấu tạo và cùng một loại từ như nhau.
Ví dụ:
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
(Trích trong bài Thu hứng của Đỗ Phủ)

Dịch xuôi: Cảm hứng mùa thu
Cúc từng chòm nở hai lần tuôn dòng lệ xưa,
Thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình quê cũ.

Dịch thơ:
Đôi chòm cúc nở tuôn dòng lệ,
Một chiếc thuyền neo nhớ cố hương.

Hoặc:

Vô biên lạc diệp tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
( Trích trong bài Đăng cao của Đỗ Phủ ).

Về cấu tạo từ,trong câu trên, “tùng cúc” đối với “cô chu” là từ ghép, “lưỡng” đối với “nhất” là từ đơn. Trong câu dưới, “tiêu tiêu” đối với “cổn cổn” là từ láy (song thanh).

Về từ loại,thì danh từ đối với danh từ ( như “lệ” và “tâm” ), “lạc diệp” và “trường giang”),số từ đối với số từ ( như “lưỡng” và “nhất”),động từ đối với động từ ( như “khai’ và “hệ”, “há” và “lai”) v.v…

b) Đối ngữ: là những ngữ cùng vị trí tương ứng ở hai câu cùng một loại và cấu tạo giống nhau.
Ví dụ: “tha nhật lệ” đối với “cố viên tâm” là ngữ danh từ,mỗi ngữ gồm danh từ trung tâm (“lệ”, “tâm”) và định tố ( “tha nhật’, “cố viên”; định tố cũng do một danh từ ( “nhật”, “viên”) kết hợp với tính từ ( “tha”, “cố”). “tiêu tiêu há” đối với “cổn cổn lai”,là ngữ động từ,mỗi ngữ đều gồm động từ trung tâm ( “há”, “lai”) và bổ tố ở trước ( “tiêu tiêu”, “cổn cổn”).

c) Đối cú: là cấu tạo câu của hai vế giống nhau,cùng một kiểu loại,vế trên có những thành phần nào thì vế dưới cũng có những thành phần ấy,bố trí theo một trật tự hình tuyến thống nhất. Ví dụ: trong câu thơ trước,mỗi vế là một cụm chủ vị (Tùng cúc/lưỡng khai…, Cô chu/nhất hệ…); trong câu sau ngoài cụm chủ vị (lạc diệp/tiêu tiêu há; trường giang/cổn cổn lai), mỗi vế còn có thêm thành phần trạng ngữ ( vô biên,bất tận).

d) Đối thanh: là thanh loại của các tiếng cùng vị trí tương ứng trong hai vế trái nhau,vế trên tiếng bằng thì đối với vế dưới phải tiếng trắc,và ngược lại.Nhưng phép đối thanh này đã được quy định trong luật về tiết tấu.

e) Đối ý: là nói về nội dung,hoặc hai vế cùng một ý nhằm tăng cường đều cần diễn đạt ( đối tương đồng hay đối bổ sung),hoặc ý trong hai vế trái ngược nhau về mục đích hay phạm trù diễn đạt ( đối tương phản),hoặc ý giữa hai vế có mối quan hệ luận lý như nhân quả,so sánh,nhượng bộ,…( đối thừa tiêp).

Ví dụ: Trích trong bài Ký tả tỉnh Đỗ thập di của Sầm Tham:
Hiểu tùy thiên trượng nhập,
Mộ nhạ ngự hương quy.

( Đối bổ sung)
Dịch xuôi:
Sớm theo xe vua mà đến,
Chiều mang hương ngự trở về.

Dịch thơ:
Sớm đón xe vua tới
Chiều về hương ngự quanh.

Hoặc:

Bạch phát bi hoa lạc,
Thanh vân tiện điểu phi.

( Đối tương phản)
Dịch xuôi:
Tóc bạc nên thương hoa rụng,
Mây xanh phơi phới cánh chim bay.

Dịch thơ:
Hoa tàn thương tóc trắng,
Chim vút ngợi mây xanh.

Hoặc trích trong bài Hựu trình Ngô Lang của Đỗ Phủ):
Bất vị khốn cùng ninh hữu thử,
Chỉ duyên khủng cụ chuyển tu thân.

( Đối bổ sung)
Dịch xuôi:
Ví không cùng quẫn thì đâu đến nỗi thế,
Do sợ hãi họ mới đến cùng ta làm quen.

Dịch thơ:
Đến thế đành vì cùng khốn mãi,
Nhờ người âu bởi sợ lo xa.

Hoặc:
Tức phòng viễn khách thùy đa sự,
Tiện sáp sơ li khước thậm chân.

( Đối thừa tiếp)
Dịch xuôi:
Người ta e dè khách xa,tuy lắm chuyện đấy,
Nhưng bởi mình cắm rào thưa,họ tưởng cấm thật.

Dịch thơ:
Họ e khách lạ,ta phiền đấy,
Ta bủa rào thưa,họ ngại mà!


Đầu trang
  
Có 6 thành viên đã cảm ơn THI NANG cho bài viết này:
Nguyễn Đức Tùy (30-10-2011, 09:07 pm), Trần Việt Phong (01-11-2011, 01:12 pm), ngà (05-11-2011, 09:53 am), Hansy (17-11-2011, 11:41 pm), Phương Đông (18-11-2011, 12:27 am), Trần Hoành (20-03-2012, 11:25 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 01-11-2011, 09:07 am 
THI NANG
<img src='http://vnthidan.com/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 11-12-2009, 08:46 pm
Lần ghé thăm trước: 28-08-2013, 11:47 pm
Bài viết: 510
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 436 lần
Được cảm ơn:
1465 lần trong 393 bài viết
 
5) Bố cục: Một bài bát cú còn được quy định bố cục một cách vững vàng.
Câu 1 và 2,nêu lên đối tượng,chủ yếu của toàn bài,như giới thiệu bộ mặt khái quát của nó,cho nên gọi là đề hay mạo. Riêng câu 1 gọi là phá ( mở bài thơ ra),câu 2 gọi là thừa ( nhân đó mà nói thêm), “phá minh thừa ám” khi câu 1 giới thiệu ngay đề tài,câu 2 phát triển một bước.
Câu 3 và câu 4 miêu tả chi tiết sự vật,thuật rõ tình hình cụ thể nhằm mở rộng,giải thích đề bài,cho nên gọi là thực hay trạng.
Câu 5 và 6 trình bày nhận thức,biểu hiện tâm tình hay đánh giá thực tại,nên gọi là luận.
Câu 7 và 8 nêu cảm tưởng chung,có tính chất khái quát đề tài,nội dung bài thơ,nên gọi là kết.
Bốn phần này quan hệ hữu cơ với nhau,theo hướng khai-thừa-chuyển-hợp ( mở đề,nhân đề mà miêu tả nó,đưa nó lên đỉnh cao để rồi tổng hợp lại).
Tóm lại,thi pháp thơ bát cú có thể lập thành sơ đồ sau đây:
http://i574.photobucket.com/albums/ss19 ... ettau3.jpg

Từ thể bát cú trên đây,chúng ta có thể rút ra thi pháp của loại tuyệt cú ( hay tứ tuyệt);hoặc rút bốn câu đầu,thành bài tuyệt cú ba vần,hai vế sau đối;hoặc rút bốn câu giữa,thành bài tuyệt cú hai vần,hai cặp vế đều đối;hoặc rút bốn câu cuối,thành bài tuyệt cú hai vần,hai cặp vế đầu đối; hoặc thông thường hơn,rút hai câu đầu và hai câu cuối,thành bài tuyệt cú ba vần,không đối.
Nội dung bốn câu cũng theo bố cục khai-thừa-chuyển-hợp.
Những ví dụ sau đây rút từ thể bát cú luật bằng:

-Rút bốn câu đầu:
Ngọc lâu thiên bán khởi sanh ca, (v)
Phong tống cung tần tiếu ngữ hòa. (v)
Nguyệt điện ảnh khai văn dạ lậu,
Thủy tinh liêm quyển cận thu hà. (v)
(Trích bài Cung từ của Cố Huống)

Dịch xuôi: BÀI TỪ TRONG CUNG
Lầu ngọc cao lưng trời nổi lên tiếng đàn hát,
Gió đưa tiếng cười tiếng nói của cung tần vọng ra.
Trăng mọc,nghe tiếng giọt đồng hồ ban đêm,
Cuốn rèm thủy tinh ( trông như) gần sông Ngân.

Dịch thơ:
Vút cao lầu ngọc rộn đàn ca,
Cung nữ cười đùa gió vọng ra.
Trăng đã lên rồi,canh đã điểm,
Thủy tinh rèm cuốn cạnh thu hà.

-Rút bốn câu giữa:
Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu
Sổ hàng bạch lộ thướng thanh thiên. (v)
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền. (v)
(Trích bài Tuyệt cú của Đỗ Phủ)

Dịch xuôi: Thơ Tuyệt cú
Đôi con oanh vàng hót trên cây liễu biếc,
Mấy hàng cò trắng bay vút lên trời xanh.
Cửa sổ đóng khung cảnh tuyết nghìn thu núi Tây,
Bến cảng đậu thuyền muôn dặm ở Đông Ngô.

Dịch thơ:
Liễu biếc,oanh vàng từng cặp hót,
Trời xanh,cò trắng mấy hàng bay.
Song khuôn tuyết núi nghìn thu phủ,
Bến đậu thuyền Ngô vạn dặm bày.

-Rút bốn câu cuối:
Kỳ Vương trạch lý tầm thường kiến,
Thôi Cửu đường tiền kỷ độ văn. (v)
Chính thị Giang Nam hảo phong cảnh,
Lạc hoa thì tiết hựu phùng quân. (v)
( Trích bài Giang Nam phùng Lý Quy Niên của Đổ Phủ)

Dịch xuôi: Gặp Lý Niên ở Giang Nam
Đã gặp ông luôn ở trong dinh Kỳ Vương,
Đã mấy lần nghe tên ông trước nhà Thôi Cửu.
Chính nơi cảnh Giang Nam xinh đẹp thế này,
Lại gặp gỡ ông giữa mùa hoa rụng.

Dịch thơ:
Trong phủ Kỳ Vương từng gặp mặt,
Trước nhà Thôi Cửu vẫn nghe danh.
Giang Nam cảnh trí bao tươi đẹp,
Giữa tiết hoa tàn lại gặp anh.

-Rút hai câu đầu và hai câu cuối:
Bi quân lão biệt lệ triêm cân, (v)
Thất thập vô gia vạn lý thân, (v)
Sầu kiến hành chu phong hựu khởi,
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân. (v)
(Trích bài Lâm Giang tống Hạ Tiêm của Đỗ Phủ)

Dịch xuôi:
Ra sông đưa tiễn Hạ Tiêm
Thương anh đã già còn đi xa,lệ đẫm khăn,
Bảy mươi tuổi,thân muôn dặm không nhà.
Buồn trông thuyền chạy,gió lại nổi lên,
Một người đầu bạc giữa đám sóng bạc đầu.

Dịch thơ:
Thương bạn già đi,đẫm lệ sầu,
Lênh đênh bảy chục,cửa nhà đâu!
Buồn trông thuyền trẫy,trời tung gió,
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu.


Đầu trang
  
Có 7 thành viên đã cảm ơn THI NANG cho bài viết này:
Trần Việt Phong (01-11-2011, 01:13 pm), ngà (05-11-2011, 09:54 am), Hansy (17-11-2011, 11:40 pm), Phương Đông (18-11-2011, 12:27 am), Trần Hoành (20-03-2012, 11:25 pm), TiCa (27-08-2013, 04:10 am), THANH LIÊM (06-03-2014, 05:02 pm)
Gửi bàiThis post was deleted by Hansy on 30-01-2012, 06:59 am.
Có 3 thành viên đã cảm ơn Hansy cho bài viết này:
Phương Đông (18-11-2011, 12:27 am), Trần Việt Phong (18-11-2011, 06:27 am), THI NANG (19-11-2011, 04:13 pm)
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 6 bài viết ] 


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Chuyển đến:  
News News Site map Site map SitemapIndex SitemapIndex RSS Feed RSS Feed Channel list Channel list
Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
[ Time : 1.231s | 46 Queries | GZIP : Off ]